Khi thuốc mới trở thành gánh nặng ngoài khả năng chi trả
Tựa lưng vào bức tường hành lang Khoa Ung bướu 2, Bệnh viện Phổi Trung ương, bà Hằng, 70 tuổi, liên tục xoa bóp đôi chân gầy guộc. Trong 6 tháng, cân nặng của ông giảm từ 62 kg xuống còn 41 kg. Khối u ác tính ở phổi đã di căn hạch ổ bụng.
Sau nhiều đợt hóa trị truyền thống không còn đáp ứng, bác sĩ thông báo liệu pháp miễn dịch là phác đồ khả dĩ nhất còn lại để kiểm soát bệnh. Thuốc được truyền định kỳ 3 tuần một lần, mỗi lọ có giá hơn 60 triệu đồng. Liệu trình tối thiểu kéo dài từ một đến hai năm.
Với khoản lương hưu 10 triệu đồng mỗi tháng và số tiền tiết kiệm 300 triệu đồng dành dụm cả đời, bà Hằng tính toán mình chỉ đủ tiền cho khoảng 4 đợt truyền.
"Tôi có lương hưu 10 triệu một tháng, sổ tiết kiệm tích cóp cả đời được 300 triệu đồng, tính ra chỉ đủ 4 đợt truyền là sạch bách. Thuốc chưa có tên trong danh mục bảo hiểm chi trả, nếu cắn răng điều trị lâu dài thì phải tốn tiền tỷ. Con cái đứa nào cũng chật vật, tôi không đành lòng để cả nhà bán đất", bà nói.
Câu chuyện của bà Hằng không phải trường hợp cá biệt. Tại nhiều trung tâm ung bướu, sự phát triển nhanh của thuốc nhắm trúng đích, kháng thể đơn dòng và liệu pháp miễn dịch đang mở thêm lựa chọn điều trị cho người bệnh, nhưng chi phí đi kèm cũng tăng theo.

Thuốc mới trở thành gánh nặng ngoài khả năng chi trả của bệnh nhân (Ảnh minh hoạ)
Trong 5 năm qua, thế giới đưa ra thị trường 125 thuốc ung thư mới, gần bằng một nửa tổng số thuốc được phát triển trong hai thập kỷ trước. Những tiến bộ này mở thêm cơ hội điều trị, nhưng với nhiều gia đình, khoản tiền phải bỏ ra để theo đuổi một phác đồ kéo dài lại trở thành rào cản khó vượt qua.
Một liệu trình tiên tiến có thể tốn 120-150 triệu đồng mỗi tháng, tương đương hàng trăm triệu đến hàng tỷ đồng mỗi năm. Với những thuốc chưa nằm trong danh mục BHYT, người bệnh phải tự thanh toán toàn bộ chi phí. Nhiều người phải bán tài sản, vay mượn rồi dừng điều trị khi nguồn tiền cạn kiệt.
Đằng sau những con số ấy là những lựa chọn đầy sức ép của từng gia đình. Với bác sĩ điều trị, khó khăn không chỉ nằm ở việc tìm được phác đồ phù hợp mà còn ở khả năng giúp người bệnh duy trì phác đồ đến cùng.
Cho ý kiến về vấn đề này, BSCKII Nguyễn Đức Hạnh, Trưởng khoa Ung bướu 2, Bệnh viện Phổi Trung ương, cho biết ông nhiều lần chứng kiến bệnh nhân bỏ dở phác đồ sau vài đợt truyền.
"Thuốc đáp ứng tốt, khối u đang co lại, nhưng gia đình hết tiền nên đành xin về. Với những ca đó, chúng tôi biết trước kết cục", bác sĩ Hạnh nói.
Quỹ BHYT cũng đứng trước bài toán cân đối
Những trường hợp như vậy đặt ra một câu hỏi rộng hơn: làm thế nào để người bệnh tiếp cận thuốc mới mà quỹ BHYT vẫn duy trì được khả năng chi trả lâu dài?
Thực tế, sức ép không chỉ dồn lên từng bệnh nhân. Khi số lượng thuốc điều trị ung thư thế hệ mới tăng nhanh, giá thuốc cao và thời gian điều trị kéo dài, quỹ BHYT cũng phải tính toán khả năng cân đối giữa nhu cầu điều trị và nguồn lực hiện có.
Năm 2023, quỹ BHYT chi hơn 7.500 tỷ đồng cho thuốc ung thư, thuộc nhóm có mức chi cao. Sang năm 2024, thuốc ung thư và điều hòa miễn dịch chiếm 16,2% tổng chi tiền thuốc BHYT và 41,3% chi cho biệt dược gốc.

Làm thế nào để người bệnh tiếp cận thuốc mới mà quỹ BHYT vẫn duy trì được khả năng chi trả lâu dài? (Ảnh minh hoạ)
Một số thuốc đắt tiền đã được quỹ BHYT thanh toán một phần, như Bevacizumab, Trastuzumab, Rituximab, Imatinib, Cetuximab. Tùy hoạt chất và chỉ định, mức hưởng có thể là 30%, 50% hoặc 70%, phần còn lại do người bệnh đồng chi trả.
Tuy nhiên, khả năng tiếp cận thuốc không chỉ phụ thuộc vào việc một hoạt chất đã được sử dụng trong điều trị hay chưa. Một số thuốc đã có mặt tại nhiều nước từ 5-10 năm nhưng chưa được cập nhật vào danh mục BHYT Việt Nam. Trong số đó có các thuốc miễn dịch điều trị ung thư phổi, dạ dày, thực quản, cổ tử cung với giá hơn 60 triệu đồng mỗi lọ.
Khoảng cách này khiến bài toán mở rộng danh mục thuốc trở nên phức tạp hơn. Bảo hiểm Xã hội Việt Nam từng lý giải quỹ BHYT vận hành trên nguyên tắc chia sẻ rủi ro, bảo đảm cân đối thu - chi cho hơn 93 triệu người tham gia, trong khi mức đóng bình quân còn thấp.
Nếu cùng lúc đưa nhiều thuốc có giá hàng trăm triệu đồng vào danh mục, quỹ có thể chịu sức ép lớn, ảnh hưởng khả năng bảo đảm quyền lợi cho số đông người tham gia mắc các bệnh phổ biến khác. Vì vậy, mỗi thuốc mới phải trải qua đánh giá công nghệ y tế và đàm phán giá trước khi được xem xét đưa vào phạm vi chi trả.
Nhưng từ góc độ người bệnh, một thuốc được đưa vào danh mục chưa có nghĩa gánh nặng tài chính đã được giải quyết. Nếu phần đồng chi trả vẫn quá lớn so với thu nhập, người bệnh vẫn có thể phải dừng phác đồ.
Đó cũng là điều bác sĩ Hạnh nhìn thấy trong thực tế điều trị.
"BHYT chia sẻ chi phí thì bệnh nhân mới duy trì điều trị lâu dài, chứ có thuốc trong danh mục mà vẫn phải trả một nửa tiền tỷ thì nhiều người vẫn phải bỏ cuộc", ông nói.
Từ bài toán này, nhiều chuyên gia đề nghị Việt Nam tăng cạnh tranh để hạ giá thuốc, nâng năng lực đàm phán, mở rộng sử dụng thuốc generic và thuốc sinh học tương tự (biosimilar). Đây được xem là những hướng có thể giảm sức ép chi phí, song hiệu quả phụ thuộc vào quá trình xây dựng chính sách và khả năng triển khai trên thực tế.
Nếu câu chuyện chi phí thuốc xuất hiện ở giai đoạn người bệnh đã bước vào điều trị, một khoảng trống khác lại nằm ngay trước đó: làm sao phát hiện ung thư sớm hơn, trước khi người bệnh phải đối mặt với những phác đồ đắt đỏ?
Phát hiện muộn lại đẩy chi phí điều trị lên cao
Câu hỏi về thời điểm phát hiện bệnh đặc biệt đáng lưu ý khi phần lớn bệnh nhân ung thư tại Việt Nam vẫn đến cơ sở y tế ở giai đoạn muộn.
Hiện chi phí tầm soát ung thư gần như nằm ngoài phạm vi chi trả BHYT phổ biến, trong khi cơ chế thanh toán chủ yếu được đặt ra khi người bệnh đã được chẩn đoán. Điều này khiến việc kiểm tra sức khỏe chủ động trở thành khoản chi mà người dân phải tự cân nhắc, nhất là với những người có điều kiện kinh tế hạn chế.
Khi việc tầm soát chưa trở thành một phần phổ biến trong phạm vi chi trả, nhiều người chỉ tìm đến bệnh viện sau khi xuất hiện triệu chứng. Đến lúc đó, căn bệnh có thể đã tiến triển hoặc di căn, kéo theo nhiều yêu cầu điều trị phức tạp hơn.

Ê-kíp bác sĩ phẫu thuật cho người bệnh ung thư (Ảnh minh hoạ)
Dữ liệu từ Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) cho thấy mỗi năm Việt Nam ghi nhận khoảng 177.000 ca mắc mới và hơn 111.000 trường hợp tử vong do ung thư. Khoảng 70% bệnh nhân đến viện khi bệnh đã ở giai đoạn III, IV.
Những con số này cũng cho thấy chi phí ung thư không chỉ được quyết định bởi giá của từng loại thuốc. Giai đoạn bệnh tại thời điểm phát hiện có thể làm thay đổi cả lựa chọn điều trị lẫn tổng chi phí mà người bệnh phải chi trả.
Nghiên cứu kinh tế y tế của Viện Chiến lược và Chính sách Y tế cho thấy chi phí điều trị trung bình ung thư cổ tử cung ở giai đoạn I khoảng 89,8 triệu đồng mỗi năm. Khi bệnh chuyển sang giai đoạn III và IV, chi phí tăng lên 136,8-138,4 triệu đồng.
Tính theo mức chênh lệch, phát hiện sớm giúp người bệnh giảm khoảng 47-48,6 triệu đồng chi phí mỗi năm. Với ung thư vú, tầm soát sớm giúp giảm từ 7,9 đến 18,3 triệu đồng chi phí trực tiếp mỗi năm cho một người bệnh so với trường hợp phát hiện ở giai đoạn muộn.
Như vậy, bài toán tài chính của ung thư bắt đầu từ trước khi người bệnh nhận được đơn thuốc đầu tiên. Một khoản chi cho tầm soát có thể quyết định thời điểm phát hiện bệnh, trong khi thời điểm ấy lại liên quan trực tiếp đến lựa chọn điều trị và mức chi phí về sau.
Chính khoảng trống ở đầu hành trình này đang được đặt lại trong quá trình xây dựng chính sách BHYT. Nếu chỉ tháo gỡ chi phí điều trị mà không mở rộng khả năng phát hiện sớm, áp lực tài chính sẽ tiếp tục dồn về giai đoạn bệnh đã tiến triển.
Từ phát hiện sớm đến điều trị, chính sách đang được mở rộng
Việc cập nhật danh mục thuốc BHYT đang được Bộ Y tế đặt trong yêu cầu cân bằng giữa khả năng tiếp cận thuốc mới và nguồn lực của quỹ. Bộ Y tế đề xuất bổ sung 84 dược phẩm, trong đó có 30 thuốc ung thư gồm thuốc nhắm trúng đích, kháng thể đơn dòng và liệu pháp miễn dịch.
Theo đề xuất, mức đồng chi trả dự kiến 30-50%, giảm phần chi phí người bệnh phải tự thanh toán. Danh mục dự kiến ban hành trong quý II/2026 nhưng đến nay chưa hoàn tất.
Chậm trễ trong cập nhật danh mục cũng diễn ra trong bối cảnh nhu cầu sử dụng thuốc ung thư và thuốc sinh học ngày càng lớn. Bởi vậy, bài toán không dừng ở việc thêm thuốc nào vào danh mục mà còn liên quan đến giá thuốc, mức thanh toán và khả năng duy trì nguồn chi trong những năm tiếp theo.
Ở phía người bệnh, mục tiêu cuối cùng vẫn là theo được phác đồ điều trị. Một thuốc có hiệu quả nhưng người bệnh không đủ khả năng duy trì sẽ khó phát huy đầy đủ giá trị điều trị. Vì thế, mở rộng danh mục cần đi cùng các giải pháp kiểm soát giá và tăng khả năng tiếp cận thực tế.
Cùng với thuốc, Bộ Y tế đang lấy ý kiến dự thảo Nghị định mở rộng phạm vi chi trả BHYT sang khám sàng lọc, chẩn đoán sớm 7 bệnh ung thư gồm cổ tử cung, vú, phổi, tiền liệt tuyến, đại trực tràng, dạ dày và gan.
.jpg)
Việc cập nhật danh mục thuốc BHYT đang được Bộ Y tế đặt trong yêu cầu cân bằng giữa khả năng tiếp cận thuốc mới và nguồn lực của quỹ (Ảnh minh hoạ)
Nếu được thông qua, chính sách sẽ mở rộng chuỗi chăm sóc từ phát hiện nguy cơ, chẩn đoán sớm đến điều trị. Người bệnh sẽ có thêm cơ hội tiếp cận dịch vụ ở thời điểm bệnh chưa tiến triển, thay vì chỉ được hỗ trợ khi ung thư đã được xác định.
Các đề xuất này vẫn đang nằm trong quá trình hoàn thiện và thảo luận giữa các bộ, ngành. Phía trước là bài toán làm sao để nguồn lực BHYT được phân bổ hợp lý, thuốc mới có giá phù hợp hơn và những nhóm có nguy cơ có thể tiếp cận tầm soát sớm.
Với người bệnh ung thư, khoảng cách giữa một phương pháp điều trị có sẵn và khả năng thực sự sử dụng phương pháp đó đôi khi được quyết định bởi khả năng chi trả. Còn ở phía đầu hành trình, phát hiện bệnh sớm có thể quyết định người bệnh phải bước vào một cuộc điều trị dài và tốn kém đến mức nào.
Trong phòng bệnh nồng mùi cồn sát trùng, bà Hằng vẫn giữ tập kết quả xét nghiệm bên cạnh. Bà tính từng đợt truyền, cân nhắc số tiền còn lại của gia đình và khoản chi phí có thể phát sinh phía trước.
"Tôi chỉ mong được chữa bệnh mà không phải để lại một khoản nợ cho các con", bà nói.
Theo: Tạp chí sức khỏe cộng đồng